“Như những cơn mưa” của nhà thơ Lê Bá Duy đến với tôi, đúng vào lúc những tiếng sấm khàn đục bắt đầu báo mùa mưa đang đến. Tôi cầm lấy tập thơ và tự hỏi, không biết Duy ví điều gì như những cơn mưa đây? Có thể là tình yêu. Có thể là nỗi đau trăn trở. Nhưng nỗi niềm như mưa thì… Thôi, cứ mở tập thơ ra. “Như những cơn mưa” đang ở trong tay mình cơ mà.
Lang thang
Khắp
Cõi đất trời
Mang
hồn cát bụi
kiếp người ngàn xưa
…
Đoán để làm gì nữa. Khắc đọc khắc biết. Chắc chắn là Duy sẽ dội vào lòng ta những cơn mưa nỗi niềm.
56 bài thơ và 4 bài thơ phổ nhạc. Có vẻ như hơi nhiều, nhưng thực ra chừng ấy lại rất vừa cho một tập thơ thật dễ thương, vừa đủ để ta đọc, ta cảm và ta nhớ. Tôi nói là vừa, bởi vì trong tập thơ có khá nhiều bài thơ ngắn; tất nhiên tôi nói ngắn là ngắn về câu chữ, chứ tôi không hề nói ngắn về tình ý trong thơ.
Ngay như một bài tứ tuyệt, Duy nói về cái “Khuyết” ở đời, tôi vẫn nhìn thấy ở đó khá nhiều cung bậc tình cảm, chứa đựng trong những tầng ngữ nghĩa sâu hun hút, mà tôi nghĩ, khó có thể viết ngắn hơn được nữa.
Mặt trời ngủ giữa mùa đông
Trốn sau rèm xám mây bồng bềnh trôi
Ai tìm về thuở xa xôi
Để mưa khuyết một chỗ bồi nhói đau!
Cái chỗ “khuyết” ấy trong mỗi con người, giống nhau và khác nhau nhiều lắm. Chúng ta là người thì chúng ta giống nhau, nhưng chúng ta là những con người hiện hữu, với những hoàn cảnh, những tâm trạng, những tiêu chí sống khác nhau, làm sao chúng ta có thể đồng nhất niềm vui và nỗi buồn, khổ đau và hạnh phúc.
Tôi đọc “Mẹ và Xuân” trong tập thơ, tôi nhận ra một phần chỗ “khuyết” làm đau nhức từng câu thơ của Duy, chính là niềm tâm sự mà Duy gởi vào trong trang viết: Nén lòng nguyện đổi một thời trai trẻ, để mẹ hiền được sống khỏe cùng con. Đó không phải giản đơn là tâm trạng, đó là nỗi niềm đáu đau khắc khoải, khiến Duy luôn thấy mình như “vầng trăng con thao thức” bên giường bệnh mẹ già. Nỗi đau ấy, Duy không thể bằng lời nguyện ngàn đêm mà biến thành hiện thực, bởi thế những dòng thơ khép lại bài thơ mùa Xuân dâng tặng mẹ, như run lên, như vỡ ra, như khóc òa bên giường bệnh của con người mà Duy yêu thương nhất.
Mùa xuân về tuổi cũng sang trang
Bao mưa nắng gõ đời con lộp độp
Đêm trừ tịch cháu con về sum họp
Xuân trở mình rôm rốp vỡ thời gian.
Sinh ra và lớn lên ở Bình Định, do ảnh hưởng bởi đất võ trời văn, thơ Duy dường như phần nào đã có được cái chất ngất của núi, cái ạt ào của biển, cái cao thượng của đường quyền, cái đam mê của ngọn gió mơn man mát rượi đồng làng.
Đến với đảo, chạm vào sóng, chạm vào nắng, chạm vào vách đá và thời gian, Duy luận về cái vô hạn và cái hữu hạn của tình yêu, để khẳng định trường sinh của tình yêu con người là có thật, thơ Duy mang được vóc dáng của đảo và sóng.
Vói tay chạm phải bầu trời
Quờ quạng tìm bóng em hư ảo
Sóng ngàn năm vỗ vào chân đảo
Anh một đời tìm đến trái tim em
Hơi thơ mạnh như đường roi vút gió khi đến với đảo bao nhiêu, thì nó mềm lại bấy nhiêu, khi Duy “Lần theo ngọn gió” đến với đồng làng bên cô thôn nữ.
Thơ tình
viết giữa cánh đồng
Mãi mê con chữ nên không kịp về
Lần theo
ngọn gió đam mê
Chạm môi thôn nữ chân đê cuối làng
Nếu gộp cả tập thơ thành những cơn mưa của nỗi niềm, chất chồng bao nhiêu cảm xúc, bao nhiêu kỉ niệm buồn vui, bao nhiêu khát khao và hy vọng, ta dễ dàng nhận thấy, cả tập thơ của Lê Bá Duy, ngập tràn những cơn mưa thơ lục bát tứ tuyệt. Nguyên thể hay phá thể, có vẻ như lục bát chính là thế mạnh của thơ Duy.
Bao năm gắn bó đất này
Giờ em biền biệt hao gầy nhớ em
Trăng khuya khoắt, lặng soi thềm
Câu thơ khắc khoải từng đêm với mình…
(Nhớ)
Lục bát là thơ truyền thống, đọng lại trong trong đời sống ngôn ngữ văn học dân gian, viết theo nó rất dễ bị sáo mòn, bị cũ. Thành công của Lê Bá Duy trong thể loại thơ rất quen thuộc này, chính là việc anh đã biết làm mới cho nó, thổi hồn cho nó hội nhập được giữa cái xa xưa của dân tộc, với cái hiện hữu hôm nay của thời đại
Trong “Khúc hát trần gian”, bằng sự phóng bút phá nhịp trong chỉ một câu thơ, Lê Bá Duy đã làm sống sống lại cả một huyền tích, tưởng chừng như đã bị bỏ quên giữa bộn bề cuộc sống thời điện tử.
Trần gian một nửa là đêm
Nửa còn lại/ anh đợi em/ đi về
Ngân Hà ai tắm trong mê
Sao ta còn mộng câu thề năm xưa
Xin trời đổ xuống cơn mưa
Vết thương ngày ấy vẫn chưa vẹn lành
Tri âm ở tận cao xanh
Câu thơ mòn mỏi hóa thành vọng phu…
Có lẽ những câu thơ “mòn mỏi hóa thành vọng phu”, chính là nỗi niềm luôn túc trực ngập tràn “như những cơn mưa”, mà Duy riêng dành cho ai đó, nhớ về ai đó, khiến âm vang cả tập thơ trở thành khúc tình ca mưa dành cho đôi lứa.
Hạ này
Ta chẳng có em
Thành phố
tất bật
cả đêm lẫn ngày
Nhớ nhau môi mắt hao gầy
Trăng lúc khuyết
lúc lại đầy cô đơn…
Tôi đọc lại cả tập thơ, vẫn cứ luôn vấp phải những nỗi niềm Duy thấy “khuyết” trong Duy, chính vì vậy, rất nhiều bài thơ trong tập thơ, dường như Duy muốn mượn thanh âm câu chữ níu kéo lại một thời.
Ngồi buồn vốc một nắm mưa
Mưa tan mưa thấm và mưa chạnh lòng
Mưa đi qua kí ức hồng
Mưa trốn bắt, mưa lòng vòng tuổi thơ.
(Mưa.1)
Sinh năm 1966, với ngàn năm văn học thành văn, Duy vẫn còn rất trẻ; nhưng có lẽ, từ nỗi niềm luôn trở trăn, cảm thấy còn “khuyết” điều gì đó với cuộc đời này, ta vẫn thường bắt gặp những trầm mặc thơ của Duy, nghèn nghẹn và cắt cứa.
Nhìn con đường phía trước
Cứ ngỡ đường còn xa
Nhìn con đường đã qua
Thấy đường đời ngắn ngủi…
Cuối con đường ngoái lại
Giật mình: Bóng hoàng hôn
Ước chi thời xa ngái
Quay trở lại một lần…
(Con đường)
Người ta sống, người ta cần nuôi dưỡng trong tâm tưởng mình rất nhiều điều ước, nhưng không phải điều ước nào cũng có thể trở thành hiện thực, nhất là điều ước cho quá khứ xa xưa trở lại với mình. Hiện hữu với đời, hiện hữu với thơ, chắc chắn Lê Bá Duy rất hiểu về điều ấy. Xuất phát từ những cảm nhận thật về cuộc đời, “Neo người” được viết ra như là một tuyên ngôn của Lê Bá Duy về đời thơ, đời người của anh.
Ngôi sao neo giữa bầu trời
Anh neo anh giữa cuộc đời áo cơm
Mẹ cha neo giữa rạ rơm
Hoa neo một chút hương thơm cho đời
Tháng năm vật đổi sao dời
Cỏ neo đất với màu trời xanh tươi…
Dây neo có lúc rã rời
Riêng ta vẫn mãi neo người với thơ.
Tôi đọc và tôi cảm thơ Duy, như là cảm về những cơn mưa buông xuống cuộc đời này. Có giận hờn. Có yêu thương. Có khổ đau. Có hạnh phúc. Có tất cả những gì thuộc về nỗi niềm của con người rất thật. Bởi vậy, đêm nay, chìm trong cơn mưa của miền Tây Nam Bộ, tôi muốn mượn hai câu cuối trong bài “Về Hầm Hô” của Duy, để nói với Duy rằng:
Ngửa mình thảm cỏ rừng cây
Nghe thiên nhiên gợi mà say cõi người…
Vĩnh Long, ngày 29.9.2008
Nhà văn Hồ Tĩnh Tâm