Lần đầu tiên tôi đọc Vũ trung tùy bút, thật tình cờ thú vị, là trong một buổi chiều mưa, trên thư viện quốc gia. Những ghi chép tản mạn, ngẫu hứng nhưng thi vị của Phạm Đình Hổ đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho tôi từ cái lần đọc đầu tiên ấy. Ấn tượng rối rắm về văn học chữ Hán của tôi bỗng chốc nhạt nhòa, vì lối viết của tác giả trong quyển sách này giản dị và gần gũi vô cùng. Kể từ đó, tôi cố công lục tìm từng hiệu sách cũ mình ghé thăm hầu mong tìm lại đúng bản sách đã đọc trên thư viện, có thể sách mới thì vẫn nội dung ấy thôi, nhưng cầm quyển sách cũ trên tay sẽ có cảm giác rất khác. Mãi đến mấy tháng trước, trong chuyến đi du lịch, thói quen nhẩn nhơ ở hiệu sách cũ đã giúp tôi tìm được quyển sách mình rất yêu này. Kể cũng là "có duyên".
Đúng như tên gọi, "tùy theo ngọn bút mà viết trong khi mưa", Vũ trung tùy bút như quyển sổ tay ghi chép lại bất cứ điều gì gợi cảm hứng cho tác giả, từ những ghi chép việc xảy ra trong xã hội, kể chuyện nhân vật lịch sử, di tích lịch sử đến bàn về các thứ lễ, phong tục, văn hóa, nghệ thuật. Trong 91 đề mục của sách, có những mục ông viết khá dài nhưng có những mục chỉ dăm ba dòng, có cái viết theo trí nhớ hoặc lời kể, có cái trích dẫn thư tịch... Ở khía cạnh kiến thức, quyển sách rất có giá trị về mặt văn hóa học, xã hội học, lịch sử và nghệ thuật. Còn với người đọc "thong dong" thì cái thi vị của tác phẩm này chính là ở góc nhìn của tác giả, có lúc hơi "cổ hủ" ở những việc lễ tự, nhưng có lúc thật phóng khoáng (ví dụ như cách nhận xét của tác giả về những thói "hình thức chủ nghĩa" của người chơi lan trong mục "Hoa thảo")...
"... Từ đời Khang Hi trở về sau, uống chè tàu mới đổi ra pha từng chén nhỏ, chứ không hãm trong ấm to nữa, vì uống chè, ấm chén cốt cho nhỏ, mỏng, khi pha mới nổi hương vị. Vòi ấm thẳng thì nước không đọng, mặt đĩa phẳng thì đặt chén không nghiêng, rế lò dầy mà lỗ thưa thì than lửa không bốc nóng quá, lòng ấm siêu lồi lên và mỏng thì sức lửa dễ thấu, chóng sôi. Ấy, cái cách pha chè uống nước, mới đầu còn thô, sau tinh dần mãi ra. Gần đây lại có chế ra thứ siêu đồng cũng khéo, nhưng kim khí bị hỏa khí nó hấp hơi, thường có mùi tanh đồng, không bằng dùng siêu đất nung, pha chè tốt hơn. Song các nhà quyền môn phú hộ khi uống chè lại lười không muốn pha lấy. Thường thường họ giao cho tiểu đồng pha phách tất cả, dùng siêu đồng cho tiện và lâu vỡ, như thế không phải bàn làm chi nữa..." (Cách uống chè).
"... Khoảng năm Ất Mão, Bính Thìn (1795-1796), ta có vào chơi một nhà anh em bạn; khi vào đến cửa, ngửi thấy mùi hương sực nức, hình như hương hoa lan mà lại có phần thanh hơn, vẫn không ngờ là thứ lan ngọc quế. Đến khi vào nhà khách, mới thấy thứ lan ấy vừa nở, nhà trồng vào trong cái chậu vỡ, đất sỏi, để ở góc hè, cành lá lơ thơ, dài chỉ độ năm sáu tấc, hoa nhỏ mà cánh mỏng, sắc rất đạm nhưng thơm ngát. Ta vừa được thưởng thức mùi hương thiên nhiên ấy, liền khen là khéo trồng thì chủ nhân bẽn lẽn nói rằng không có lúc nào bón tưới cả. Ta mới hay người đời chơi lan chỉ biết thưởng thức lan bằng mắt, cứ không biết được cái thần của hoa. Chậu sành nào phải là nơi sơn cốc, phường phố nào phải là chốn thôn quê, thế mà hoa lan trồng được ở nơi u tĩnh thì đã phát ra kỳ hương như thế..." (Hoa thảo).