Đang tải dữ liệu...
Chiến lược cạnh tranh

Lượt xem: 1952

 

Chiến lược cạnh tranh và những bộ phận chính của nó gồm phân tích ngành, phân tích đối thủ cạnh tranh và định vị chiến lược hiện đang là một phần trong hoạt động quản lý.


Chiến lược cạnh tranh bản thân nó cũng đã trở thành một lĩnh vực học thuật. Với nhiều ý tưởng cạnh tranh phong phú, đây hiện là một lĩnh vực nổi bật đối với các nhà nghiên cứu quản lý. Nó cũng trở thành một lĩnh vực được nhiều nhà kinh tế quan tâm. Số lượng và chất lượng các nghiên cứu có liên quan đến cuốn sách này, dù là ủng hộ hay phê phán, rất đáng khích lệ.


Cuốn sách đã bổ sung vào khoảng trống trong tư duy quản lý. Sau nhiều thập kỷ phát triển, vai trò của các nhà quản lý tổng hợp và các chuyên gia đã trở nên rõ ràng hơn. Hoạch định chiến lược đã được chấp nhận rộng rãi như một nhiệm vụ quan trọng để vạch ra hướng đi dài hạn cho một doanh nghiệp.


Cuốn sách “Chiến lược cạnh tranh” giới thiệu một khung phân tích chi tiết để hiểu những lực lượng ẩn giấu phía sau cạnh tranh trong các ngành, thể hiện trong “năm yếu tố”. Khung phân tích này cho thấy sự khác biệt quan trọng giữa các ngành, sự phát triển của ngành và giúp các công ty tìm ra vị trí hợp lý. Cuốn sách cung cấp những công cụ để nắm bắt sự phong phú và đa dạng của các ngành và các công ty trong khi đưa ra một cấu trúc chặt chẽ để xem xét chúng. Cuốn sách cũng cấu trúc hóa khái niệm lợi thế cạnh tranh bằng cách định nghĩa nó theo chi phí và tính khác biệt, đồng thời gắn nó trực tiếp với lợi nhuận. Các nhà quản lý đang tìm kiếm những phương pháp cụ thể để giải quyết những câu hỏi khó trong hoạch định chiến lược đã nhanh chóng nắm lấy những ý tưởng trong sách vì chúng có vẻ đúng đối với những nhà hoạt động thực tiễn.


Cuốn sách cũng báo hiệu một hướng đi mới và cung cấp một động lực mới cho tư duy kinh tế. Lý thuyết kinh tế về cạnh tranh vào thời điểm đó đều mang tính cách điệu hóa cao. Các nhà kinh tế tập trung chủ yếu vào các ngành; các công ty được giả định là giống nhau hoặc chỉ khác nhau chủ yếu về quy mô hay hiệu suất. Quan điểm phổ biến về cấu trúc công nghiệp bao gồm việc tập trung hóa người bán và một số hàng rào ngăn cản gia nhập. Các nhà quản lý không hề xuất hiện trong các mô hình kinh tế và gần như không có ảnh hưởng đến kết quả cạnh tranh. Các nhà kinh tế chủ yếu quan tâm đến những hậu quả xã hội và công cộng của những cấu trúc công nghiệp thay thế và các hình mẫu cạnh tranh. Mục tiêu là làm giảm lợi nhuận “quá cao”. Một số nhà kinh tế thậm chí còn chưa từng nghĩ tới câu hỏi bản chất của cạnh tranh có ý nghĩa gì đối với hành vi của công ty hay làm thế nào để tăng lợi nhuận. Hơn thế, các nhà kinh tế cũng thiếu những công cụ để mô hình hóa cạnh tranh giữa một nhóm nhỏ các hãng có hành vi tác động qua lại lẫn nhau…


Cuốn sách “Chiến lược cạnh tranh” không chỉ được sử dụng rộng rãi trong giảng dạy mà còn là động lực và là xuất phát điểm cho những nỗ lực khác nhằm đưa tư duy kinh tế gắn liền với thực tiễn.


Những ý tưởng trong sách này có giá trị lâu dài bởi chúng giải quyết được những vấn đề nền tảng trong cạnh tranh bằng một phương pháp độc lập với những những cách thức cạnh tranh cụ thể của các công ty. Nhiều cuốn sách về cạnh tranh khác đã xuất hiện và biến mất bởi vì chúng tập trung vào những trường hợp đặc biệt hoặc không dựa trên nền tảng những nguyên lý của chiến lược cạnh tranh mà vào các cách thức cạnh tranh cụ thể. Điều đó không có nghĩa là cuốn sách “Chiến lược cạnh tranh” là hoàn hảo. Ngược lại, đã có nhiều ý tưởng quan trọng phát triển thêm từ cuốn sách này và nhiều cải tiến nữa sẽ còn tiếp tục. Tuy nhiên, cuốn sách “Chiến lược cạnh tranh” vẫn là một nền tảng lâu dài và là xuất phát điểm để tư duy về cạnh tranh công nghiệp và định vị trong các ngành, trên cơ sở đó, các ý tưởng khác có thể được bổ sung hoặc tích hợp./.


Những nội dung khác

Michael E. Porter là “cha đẻ” của chiến lược cạnh tranh, là nhà tư tưởng chiến lược vĩ đại nhất mọi thời đại, và đồng thời là một trong 3 “bộ óc” quản trị có ảnh hưởng nhất thế giới (cùng với Peter Drucker/“cha đẻ” quản trị kinh doanh hiện đại; và Philip Kotler / “cha đẻ” marketing hiện đại.

 

Những tư tưởng của ông đã đặt nền móng cho sự hình thành của khoa học chiến lược và cạnh tranh và được giảng dạy rộng rãi ở tất cả các trường về kinh tế và kinh doanh trên thế giới. Ông là người chủ trì Global Competitiveness Report  - bảng xếp hạng thường niên về năng lực cạnh tranh và tiềm năng phát triển của hơn 120 quốc gia, được xuất bản bởi Diễn đàn kinh tế thế giới.

 

Ông là tác giả của 17 cuốn sách và 125 bài báo. Những tác phẩm kinh điển của ông gồm có: “Competitive Strategy: Techniques for Analyzing Industries and Competitors”,  “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”, On Competition”, “The Competitive Advantage of Nations”… Tất cả những cuốn sách này đều được tái bản hàng chục lần và được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ. Ngoài ra, còn có thể kể đến hai bài báo quan trọng đã giành được giải thưởng từ tạp chí Havard Business Review của ông là “What is Strategy?” (1996) và “The Five Competitive Forces That Shape Strategy” (2008).

 

Bên cạnh vai trò là Thành viên sáng lập và điều hành Hội Đồng Cạnh Tranh (Council on Competitiveness) của chính phủ Hoa Kỳ, Michael Porter còn được biết đến như một nhà tư vấn về chiến lược cạnh tranh cho rất nhiều quốc gia trên thế giới, gồm có: Anh, New Zealand, Canada, Bồ Đào Nha, Ấn Độ, Colombia, Singapore, Ireland, Saudi Arabia, Nicaragua, Nga, Rwanda, Đài Loan, Kazakhstan, Libya, Thái Lan…

 

Ông cũng được mời tư vấn về chiến lược cho hàng loạt các tập đoàn hàng đầu thế giới như: DuPont, Procter & Gamble, Royal Dutch Shell, Scotts Miracle-Gro, SYSCO, Taiwan Semiconductor Manufacturing Company…

 

Những thành tựu của ông đã được ghi nhận bằng vô số giải thưởng danh tiếng như: giải David A. Wells  về Kinh tế học của Harvard (1973), giải thưởng Graham and Dodd của Hiệp hội các nhà phân tích tài chính (1980), giải thưởng về sách George R. Terry Book Award (1980) do Học viện Quản trị trao tặng cho cuốn sách Competitive Advantage của ông, giải thưởng Adam Smith của Hiệp hội các nhà kinh tế học quốc gia (1997). Năm 1998, ông là người đầu tiên trong lịch sử nhận được giải thưởng của Học viện Quản trị Quốc tế dành cho những cống hiến nổi bật trong lĩnh vực quản trị. Năm 2001, nước Nhật còn lập hẳn một giải thưởng mang tên Ông là “Porter Prize” để ghi nhận những công ty dẫn đầu về chiến lược. Năm 2008, ông vừa được Bộ Thương Mại Hoa Kỳ trao tặng Giải thưởng Thành tựu Trọn đời (Lifetime Achievement Award) cho những đóng góp của ông đối với sự phát triển kinh tế quốc gia.

 

Hiện ông là Giáo sư của Đại học Harvard. Bên cạnh đó, Ông còn được trao tặng học vị Tiến danh dự của trường Kinh tế Stockholm, Đại học Erasmus (Netherlands), HEC (Pháp), Đại học Tecnica de Lisboa (Portugal), Đại học Adolfo Ibanez (Chile), INCAE (trung Mỹ), Đại học Deusto (Basque country), Đại học Iceland, Đại học Los Andes (Colombia), Trường đào tạo quản trị HHL-Leipzig (Đức), Đại học San Martin de Porres (Peru), Đại học Johnson and Wales (Mỹ), và Mt. IdaCollege (Mỹ)…


Bạn hãy Đăng nhập để có thể chia sẻ ý kiến của mình, hoặc Đăng ký tại đây