Vấn đề đầu tiên phải giải quyết khi tiến hành biên soạn một quyển từ điển là lập bảng từ, tức là danh sách các mục từ, gồm những đơn vị ngôn ngữ, thường là từ, nhưng cũng có thể là đơn vị nhỏ hơn hoặc lớn hơn từ, được tuyển chọn theo mục đích, yêu cầu, tính chất của quyển từ điển và sắp xếp theo một thứ tự nhất định, thường là theo thứ tự chữ cái (nếu là ngôn ngữ có chữ viết ghi âm bằng chữ cái), tạo thành một cấu trúc chặt chẽ. Đây là cấu trúc có những quan hệ dọc, suốt từ đầu đến cuối quyển từ điển, nên được gọi là cấu trúc vĩ mô, theo thuật ngữ của Rey - Debove (1971), phân biệt với cấu trúc vi mô, cấu trúc của các mục từ, có những quan hệ ngang.
Giải quyết vấn đề cấu trúc vĩ mô của một từ điển tiếng Việt, phải chú ý đến đặc điểm từ vựng - ngữ pháp - ngữ nghĩa của tiếng Việt. Trong tiếng Việt, đơn vị tiếng (âm tiết) thường có nghĩa, nên nhiều khi rất khó phân định ranh giới giữa tiếng - từ và tiếng - hình vị, cũng như giữa từ kép và tổ hợp từ, giữa tổ hợp từ cố định và tổ hợp từ tự do. Xác định khái niệm từ và ranh giới từ trong tiếng Việt là cả một vấn đề cực kì khó khăn, vì có thể nói là không thể dựa vào một tiêu chí hình thức nào cả. Chưa có một quan điểm nào đạt được một sự nhất trí trong giới nghiên cứu, chưa có một giải pháp nào khả dĩ đạt được một sự nhất quán khi vận dụng. Mà từ điển lại không chỉ giải quyết vấn đề trên lí thuyết, mà phải giải quyết trong thực tiễn, cho toàn bộ những từ ngữ thu thập. Các từ điển tiếng Việt trước đây hoặc lấy từ và tổ hợp từ cố định làm đơn vị mục từ (như: Tự điển Việt Nam phổ thông của Đào Văn Tập, 1951; Việt Nam tân tự điển của Thanh Nghị, 1952; Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, 1967); hoặc lấy tiếng làm đơn vị, nhưng trong mỗi mục từ, lại thu thập các từ đa tiết và các tổ hợp từ cố định có tiếng - tên của mục từ là yếu tố đầu, những từ và tổ hợp từ này được sắp xếp theo thứ tự chữ cái, và tạo thành những mục từ nhỏ trong mục từ lớn (như: Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của, 1895; Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức, 1970). Một cấu trúc vĩ mô như vậy có thể gọi là cấu trúc hai bậc. Đây cũng là cấu trúc vĩ mô của các từ điển tiếng Hán, nói chung. Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức khởi thảo, 1931 áp dụng một kiểu cấu trúc vĩ mô hai bậc như thế nhưng không triệt để…